• Uniting for a brighter tomorrow

  • Tiếng Việt
  • English
  • Luật doanh nghiệp vấn đề cơ bản của pháp luật phá sản

    Luật doanh nghiệp: Thẩm quyền của Toà án toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó. Trường hợp cần thiết, Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của Toà án huyện.

    I. Thẩm quyền của Toà án

    a. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó.

    b. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó. Trường hợp cần thiết, Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của Toà án huyện.

    Toà án tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký kinh doanh thuộc tỉnh đó.

    II. Thủ tục phá sản

    Thủ tục phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm 4 bước cơ bản:

    1) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;

    2) Phục hồi hoạt động kinh doanh;

    3) Thanh lý tài sản, các khoản nợ;

    4) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

    1. Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản

    a. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

    – Chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. (Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được đảm bảo bằng tài sản của con nợ. Chủ nợ có đảm bảo một phần là chủ nợ có khoản nợ đảm bảo bằng tài sản của con nợ hoặc người thứ ba mà giá trị tài sản đảm bảo ít hơn khoản nợ đó).

    – Người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thông qua đại diện công đoàn hoặc cử người đại diện (nếu chưa có tổ chức công đoàn).

    – Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp nhà nước.

    – Các cổ đông trong công ty cổ phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần theo quy định của điều lệ công ty.

    – Thành viên hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh.

    b.  Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

    Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã của mình có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản.

    Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu theo quy định và theo yêu cầu của Toà án trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.

    c. Nghĩa vụ thông báo doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

    Khi thực hiện chức năng nhiệm vụ, nếu nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã  lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý vốn, tổ chức kiểm toán hoặc cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp (không phải là chủ sở hữu nhà nước của doanh nghiệp) có nhiệm vụ thông báo bằng văn bản cho những người có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản biết để họ xem xét việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Cơ quan thông báo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông báo.

    d. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

    Sau khi nhận đơn, Toà án sẽ xem xét nếu thấy cần sửa đổi, bổ sung tài liệu thì Toà án yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đơn. Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản kể từ ngày người nộp đơn đã nộp tiền tạm ứng phí phá sản hoặc là ngày Toà án nhận được đơn trong trường hợp người nộp đơn không phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản.

    Toà án trả lại đơn yêu cầu khi:

    + Người nộp đơn không nộp tiền tạm ứng phí phá sản trong thời hạn do Toà án ấn định;

    + Người nộp đơn không có quyền nộp đơn;

    + Có Toà án khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

    + Có căn cứ rõ ràng cho thấy việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không khách quan;

    + Doanh nghiệp, hợp tác xã chứng minh được mình không lâm vào tình trạng phá sản.

    đ. Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản

    Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.

    Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

    Toà án có thể ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu thấy doanh nghiệp, hợp tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản.

    Nếu Toà án quyết định mở thủ tục phá sản thì phải thông báo quyết định mở thủ tục phá sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã và Viện Kiểm sát cùng cấp; thông báo quyết định cho chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát của thẩm phán và tổ quản lý, thanh lý tài sản. Trường hợp nếu xét thấy người quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ,Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, của hợp tác xã.

    Để đảm bảo cho việc giải quyết phá sản được đúng đắn, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, pháp luật nghiêm cấm doanh nghiệp hợp tác xã tiến hành các hành vi như: cất giấu, tẩu tán tài sản; thanh toán nợ không có bảo đảm; từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp. Một số hoạt động phải được sự đồng ý bằng văn bản của thẩm phán mới được thực hiện như: Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản; nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng; chấm dứt hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật; vay tiền; bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản; Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã.

    Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập tổ quản lý tài sản, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tổ quản lý, thanh lý tài sản quy định tại Điều 9, 10, 11 Luật Phá sản).

    2. Phục hồi hoạt động kinh doanh

    a. Hội nghị chủ nợ

    – Thành phần tham gia hội nghị chủ nợ, gồm: các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ; đại diện người lao động, đại diện công đoàn được người lao động uỷ quyền; người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

    –  Nội dung hội nghị chủ nợ lần thứ nhất:

    Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản thông báo cho Hội nghị chủ nợ về tình hình kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, kết quả kiểm kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ và các nội dung khác nếu xét thấy cần thiết.

    + Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp trình bày ý kiến của mình về các nội dung mà tổ quản lý, thanh lý tài sản đã thông báo, đề xuất phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn thanh toán nợ.

    + Hội nghị chủ nợ thảo luận về các nội dung do tổ quản lý, thanh lý tài sản đã thông báo và các ý kiến của chủ doanh nghiệp, đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã.

    + Thông qua nghị quyết của hội nghị chủ nợ.

    Trường hợp cần phải tổ chức hội nghị chủ nợ tiếp theo thì chương trình, nội dung hội nghị do thẩm phán quyết định.

    – Hội nghị chủ nợ chỉ được coi là hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau đây:

    + Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia.

    + Có sự tham gia của người có nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ (quy định tại Điều 63 Luật Phá sản).

    – Hội nghị chủ nợ có thể được hoãn một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    + Không đủ quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia.

    + Quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại hội nghị chủ nợ biểu quyết đề nghị hoãn hội nghị.

    + Người có nghĩa vụ tham gia hội nghị quy định tại Điều 63 Luật Phá sản vắng mặt có lý do chính đáng.

    Trường hợp thẩm phán ra quyết định hoãn hội nghị thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn hội nghị, thẩm phán phải triệu tập lại hội nghị chủ nợ.

    b. Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

    – Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sau khi hội nghị chủ nợ lần 1 thông qua nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

    – Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hội nghị chủ nợ lần 1 thông qua nghị quyết, doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương án phục hồi kinh doanh của mình và nộp cho thẩm phán.

    c. Nội dung, phương án phục hồi hoạt động kinh doanh

    – Phải nêu rõ các biện pháp cần thiết để phục hồi kinh doanh, các điều kiện, thời hạn, kế hoạch thanh toán nợ.

    – Các biện pháp huy động vốn.

    – Thay đổi mặt hàng kinh doanh.

    – Tổ chức lại bộ máy…

    d. Xem xét, thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh (xem Điều 70, Điều 71 Luật Phá sản).

    đ. Công nhận nghị quyết về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh và giám sát việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh (Điều 72 Luật Phá sản).

    Thời hạn tối đa để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh là 3 năm kể từ ngày cuối cùng công bố quyết định của Toà án công nhận nghị quyết của hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

    e. Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và hậu quả pháp lý (Điều 76, Điều 77 Luật Phá sản).

    3. Thanh lý tài sản, các khoản nợ

    a. Những trường hợp quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản

    Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán phụ trách việc tiến hành thủ tục phá sản ra Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong những trường hợp sau:

    – Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp đặc biệt (Điều 78 Luật Phá sản).

    – Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi hội nghị chủ nợ không thành (Điều 79 Luật Phá sản).

    – Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản sau khi có nghị quyết của hội nghị chủ nợ lần 1 (Điều 80 Luật Phá sản).

    Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản có thể bị khiếu nại, kháng nghị. Việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật Phá sản.

    b. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và thứ tự phân chia tài sản

    Tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: tài sản và quyền tài sản có tại thời điểm toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; các khoản lợi nhuận, các tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý; tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; giá trị quyền sử dụng đất… ( Điều 49 Luật Phá sản).

    Tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi thanh toán các khoản nợ có bảo đảm được phân chia theo thứ tự ưu tiên như sau:

    – Phí phá sản.

    – Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký.

    – Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

    Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định trên mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:

    – Xã viên hợp tác xã;

    – Chủ doanh nghiệp tư nhân;

    – Các thành viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần;

    – Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.

    c. Đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản

    Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản trong các trường hợp:

    – Con nợ không còn tài sản để thực hiện phương án phân chia tài sản;

    – Phương án phân chia tài sản đã thực hiện xong.

    4. Tuyên bố phá sản

    a. Các trường hợp Toà án tuyên bố phá sản

    Có 2 nhóm trường hợp Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản:

    Thứ nhất, Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản trong trường hợp đặc biệt

    – Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp tiền tạm ứng phí phá sản do Tòa án ấn định, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn tiền và tài sản khác để nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì Toà án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

    – Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhận các tài liệu, giấy tờ do các bên có liên quan gửi đến, Toà án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán phí phá sản.

    Thứ hai, Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản.

    b. Thông báo quyết định tuyên bố phá sản (Điều 89 Luật Phá sản).

    c. Khiếu nại, kháng nghị và giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản (Điều 91, Điều 92 Luật Phá sản).

    5. Hậu quả của việc tuyên bố phá sản

    – Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản của chủ soanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

    Các nghĩa vụ về tài sản phát sinh sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản được quyết định theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    – Trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng, người quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản sẽ bị xử lý như sau:

    + Người giữ chức vụ Giám đốc, Tổng giám đốc, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào khác, kể từ ngày công ty, tổng công ty nhà nước bị tuyên bố phá sản.

    + Người được giao đại diện phần vốn của Nhà nước ở doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.

    + Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.